Hướng đến giám đốc thẩm kỳ án Trung Nguyên- Kỳ 5: Bị bỏ qua quyền cổ đông trong vụ án ly hôn: Bất công cho bà Lê Hoàng Diệp Thảo?

01-09-2020 13:17 18,680

(THPL) - Một trong những nội dung gây tranh cãi trong vụ án Trung Nguyên chính là có hay không sự công bằng trong việc phân chia tài sản để tránh trở thành án lệ. Việc bà Lê Hoàng Diệp Thảo tiếp tục mong muốn được tiến hành thủ tục giám đốc thẩm, phần nào cũng thấy rõ, kết quả tòa phúc thẩm vẫn chưa được nữ doanh nhân này tâm phục, khẩu phục.

Sau khi xác định tỷ lệ phân chia khối tài sản chung là cổ phần và phần vốn góp tại các Công ty thuộc Tập đoàn Trung Nguyên như trên, Tòa cấp sơ thẩm đã tuyên bà Lê Hoàng Diệp Thảo giao toàn bộ số cổ phần/phần vốn góp do bà Thảo đứng tên sở hữu cho ông Đặng Lê Nguyên Vũ, với tỷ lệ: lệ 60%-40% cho ông Vũ.

Chính vì điều này, đã khiến dư luận theo dõi cuộc ly hôn kéo dài suốt nhiều năm này dậy sóng. Bởi theo giới chuyên môn, Luật pháp Việt Nam, tại điều Điều 64 Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định về việc Chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh: “Vợ, chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác”.

Đồng thời, tại Điều 29 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 cũng quy định như sau: “Vợ, chồng bình đằng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập”.

Bên cạnh đó, tại Điều 213 của Bộ luật dân sự 2015 quy định về sở hữu chung của vợ chồng “vợ chồng cùng tạo lập, phát triển khối tài sản cung có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”

Ngoài ra, tại Khoản 2 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định “Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất”;

Cũng cần lưu ý, tại Điều 210 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Sở hữu chung hợp nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất không phân chia”, trong trường hợp này, cổ phần tại các công ty thuộc sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia. Tiếp đó, căn cứ vào Khoản 2 Điều 218 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật”.

Tại bản án sơ thẩm, ở trang 49, có ghi rõ: “Cần thiết phải chia cho ông Vũ và bà Thảo với tỷ lệ ông Vũ chiếm tỷ lệ 60% công sức, bà Thảo chiếm tỷ lệ 40% công sức” và tại trang 55 bản án sơ thẩm cũng có nhận định như sau: “Nếu chia ông Vũ sở hữu 60% tài sản thì ông Vũ được sở hữu là: 4.501.510.146.840,6 đồng, và bà Thảo sở hữu 40% tài sản thì bà Thảo được sở hữu 3.001.006.764.560 đồng”.

Ngoài ra, theo Biên bản nghị án tại cấp sơ thẩm ngày 27/03/2019, Hội đồng xét xử cũng không tiến hành thảo luận và quyết định về tỷ lệ chia tài sản chung vợ chồng. Bất ngờ, tại Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm (được giữ nguyên) đã chia cho ông Vũ khối tài sản nhiều hơn bà Thảo là: một nghìn một trăm chín mươi tỷ, sáu trăm bảy mươi bảy triệu, sáu trăm mười chín ngàn, tám trăm năm mươi lăm đồng). Quyết định này một lần nữa khiến dư luận xôn xao, bởi căn cứ theo qui định tại khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân gia đình qui định về Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn “Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi”.

 

Bên cạnh đó, câu hỏi đặt ra là việc Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng Điều 3 Luật doanh nghiệp để áp dụng luật chuyên ngành (Luật Hôn nhân và gia đình) liệu có phải là quyết định chính xác. Theo tìm hiều của Truyền Hình Báo Pháp Luật Việt Nam, Điều 3 Luật doanh nghiệp quy định như sau: “Trường hợp luật chuyên ngành có quy định đặc thù về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể hoạt động có liên quan của doanh nghiệp thì áp dụng quy định của Luật đó”. Vậy, trong vụ ly hôn giữa ông Vũ- bà Thảo, đây thực ra không phải là trường hợp đặc thù về thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp. Bên cạnh đó, theo luật sư bà Lê Hoàng Diệp Thảo, do tài sản chung của vợ chồng là cổ phần và phần vốn góp tại các công ty, thì theo quy định tại Điều 64 Luật Hôn nhân và gia đình, bà Thảo hoàn toàn có quyền được nhận và toàn quyền quyết định về số cổ phần, phần vốn góp là tài sản chung được chia tại các công ty.

Nguồn: Truyền Hình Pháp Luật

Cùng chuyên mục